Tròn 200 năm ngày mất Nguyễn Du: ‘Tiếng thơ ai động đất trời; nghe như non nước vọng lời ngàn thu’

Tròn 200 năm ngày mất Nguyễn Du: ‘Tiếng thơ ai động đất trời; nghe như non nước vọng lời ngàn thu’

Hôm nay 10 tháng 8 âm lịch, tròn 200 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn Du - danh nhân văn hóa của Việt Nam và thế giới. Đây cũng là dịp để hậu thế ôn lại sự nghiệp trước tác lẫy lừng của ông, với những tác phẩm còn sống mãi trong lòng người dân đất Việt, như Truyện Kiều, hay Văn tế thập loại chúng sinh.Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc Đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam đã được kết tinh thành một nét đẹp văn hóa qua hàng nghìn năm lịch sử. Lời dặn của Bác "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" và "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", hay những tư tưởng trong "Di chúc", chính là lời nhắc vô cùng sâu sắc về đạo lý ấy. Mà đã là đạo lý thì ở thời đại nào, thế hệ nào cũng luôn đúng, bao gồm cả "thời đại 4.0" với "thế hệ Gen Z", hay cho đến mãi về sau. Đó là lý do chúng tôi mở tuyến bài "Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc". Từng bài trong tuyến sẽ như một nén tâm hương nhắc mỗi người hãy nhớ đến anh linh của các vị vua hiền, các danh tướng tài ba, các danh nhân khoa bảng, trạng nguyên đầu triều… cho đến các dũng sĩ, liệt sĩ vô danh đã nằm xuống để góp xây nên nền văn hiến hàng nghìn năm dựng nước - giữ nước. Chúng tôi cũng xin mời quý độc giả khi đọc những bài này hãy lắng lại, để bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn của mình đối với các Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc - để chúng ta được tròn đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" như lời Bác căn dặn. * Đọc tất cả các bài viết Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc tại đây. Không thành công trong quan lộ, nhưng Nguyễn Du (1766-1820, làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã để lại cho đời những vần thơ bất hủ, để rồi tên tuổi ông mãi được ghi nhận như một đại thi hào của dân tộc, và là một danh nhân văn hóa của thế giới.Trong bài thơ chữ Hán hay nhất của mình là "Độc Tiểu Thanh ký", có lẽ được Nguyễn Du sáng tác xung quanh thời gian ông đi sứ sang Trung Quốc năm 1795, nhà thơ đã viết hai câu thơ đầy trăn trở:"Bất tri tam bách dư niên hậuThiên hạ hà nhân khấp Tố Như"(Không biết rằng ba trăm năm nữaThiên hạ ai người khóc Tố Như)Tượng đài Đại thi hào Nguyễn Du ở Hà Tĩnh. Ảnh: Xuân Quyết. Dẫn theo Báo Tiền phong (tienphong.vn)Nhà thơ nghĩ đến thân phận nàng Tiểu Thanh bạc phận sống trước mình 300 năm, để rồi tưởng tượng cảnh sau mình 300 năm nữa, liệu có còn ai nhớ tới tên tuổi mình. Nhưng vào những ngày mùa thu này, tròn 200 năm sau khi Nguyễn Du qua đời, nhân dân cả nước ta đang tổ chức những ngày lễ trọng đại để tưởng nhớ đến ông, cũng như những tác phẩm bất hủ của ông. Nói đến Nguyễn Du, là phải nói đến Truyện Kiều, tác phẩm có sức sống mãnh liệt được lưu truyền từ cung đình, thành thị đến khắp nẻo thôn quê, là tiếng nói của người Việt, mà học giả Phạm Quỳnh vào đầu thế kỷ 20 đã khẳng định "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn". Truyện Kiều được in và lưu hành từ khi Nguyễn Du còn sống. Tương truyền, tác phẩm thơ này được danh sĩ Phạm Quý Thích nhuận sắc và cho in ở phố Hàng Gai, Thăng Long thời bấy giờ. Các bản dịch Truyện Kiều của hơn 20 ngôn ngữ trên thế giới trong hơn 100 năm qua và vẫn đang được tiếp tục. Dẫn theo Báo Hà tĩnh (baohatinh.vn)Trong bài đề từ Truyện Kiều nổi tiếng của Phạm Quý Thích, viết bằng chữ Hán, vị tiến sĩ thi đỗ từ năm Cảnh Hưng cuối thời Lê đã viết những câu bình luận đặc sắc mà xác đáng: Nhất phiến tài tình thiên cổ luỵ,"Tân thanh" đáo để vị thuỳ thương.(Một mảnh tài tình muôn thuở lụy"Tân Thanh" đau xót tỏ tình thương)Sau khi Nguyễn Du mất không lâu, vua Tự Đức từng lệnh cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh và nhiều tài liệu cho biết, vị vua yêu thơ này đã đọc kỹ Truyện Kiều và còn để lại nhiều lời bình luận sâu sát. Hiếm có tác phẩm nào đi sâu vào đời sống người dân nước ta như Truyện Kiều. Dù bắt nguồn từ một câu chuyện, tiểu thuyết của Trung Quốc, nhưng qua những vần thơ tài hoa của Nguyễn Du, Truyện Kiều đã trở thành một tác phẩm văn học mang đậm tinh thần Việt Nam. Rất nhiều những câu thành ngữ từ Truyện Kiều đi vào lời ăn tiếng nói người dân Việt, như "đẹp như Vân với Kiều", "chết đứng như Từ Hải", "máu Hoạn Thư", cho đến những cái tên riêng đã trở thành những đặc tính hay nghề nghiệp, như "Sở Khanh", "Tú Bà"… Từ thế kỷ 19, người dân ta đã dùng Truyện Kiều để bói. Các nhà nho dùng những câu Kiểu để lẩy thành thơ. Người ta đố Kiều, giảng Kiều. Rất nhiều người bà, người mẹ dù không biết chữ vẫn thuộc lòng Truyện Kiều để cất tiếng ru con, ru cháu, nuôi dưỡng tình yêu Truyện Kiều từ thế hệ này đến thế hệ khác. Dù đã qua 200 năm với nhiều cuộc dâu bể, đất nước chịu nhiều cuộc chiến tranh, chia cắt, nhưng những câu Kiều vẫn mãi được ngâm nga. Sang thế kỷ 20, học giả Đào Duy Anh soạn "Từ điển Truyện Kiều", rồi hình thành những trường phái nghiên cứu Truyện Kiều với rất nhiều phong cách khác nhau. Truyện Kiều đi vào sách giáo khoa văn học của biết bao thế hệ học trò, là nguồn cảm hứng của rất nhiều loại hình nghệ thuật, từ hội họa, âm nhạc, kịch, điện ảnh… Do đó, có thể khẳng định, dù có 300 năm hay bao nhiêu năm sau ngày Tố Như qua đời, thì Truyện Kiều vẫn còn sống mãi, tên tuổi Nguyễn Du vẫn còn sống mãi. Bức tranh thuộc bộ tranh Kiều trong đồ án tốt nghiệp Khoa Thiết kế đồ họa - Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội của nữ hoạ sỹ Phạm Đức Hạnh (SN 1997, xã Phú Lộc, huyện Can Lộc). Nguồn ảnh: Dẫn theo Báo Hà tĩnh (baohatinh.vn)Sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, có cha làm tới chức Tể tướng, tước Quận công dưới thời Lê mạt, nhưng Nguyễn Du đã trải qua một cuộc đời khá lận đận. Sau khi cha ông là Nguyễn Nghiễn mất năm 1776, năm 1780, anh trai ông là Trấn thủ Sơn Tây Nguyễn Khản, người đang nuôi Nguyễn Du, bị khép tội mưu loạn và giam giữ, Nguyễn Du đã phải đi nương náu ở trong nhà của một người quen của gia đình là Đoàn Nguyễn Tuấn ở Sơn Nam Hạ (Thái Bình ngày nay). Sau khi Nguyễn Du thi đỗ Sinh đồ và được giao một chức võ quan ở Thái Nguyên không lâu, nạn kiêu binh nổ ra, dinh thự gia đình họ Nguyễn ở phường Bích Câu, Thăng Long bị kiêu binh phá sạch. Đến khi quân Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du bắt đầu cuộc đời lang thang phiêu bạt trong suốt 10 năm, đi sang cả Trung Quốc. Nguyễn Du từng định trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh, nhưng bị bắt giữ và giam cầm ở Nghệ An trong ba tháng, rồi cho về quê sinh sống. Năm 1803, khi vua Gia Long ra Bắc, Nguyễn Du ra đón, được nhà vua phong cho làm tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu (nay là huyện Phù Cừ, Hưng Yên), sau đó, được thăng chức nhiều lần và có có vài lần tham gia các công việc ngoại giao với nhà Thanh, với vị trí quan trọng nhất là làm chánh sứ sang nhà Thanh năm 1813. Khi trở về, ông được thăng làm Hữu Tham tri bộ Lễ, hàm tòng nhị phẩm. Đến năm 1820, khi vua Gia Long qua đời, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong, tuy nhiên ông mắc bệnh dịch tả và qua đời ngày 10 tháng 8 âm lịch, hưởng thọ 55 tuổi. Thi hài ông lúc đầu được an táng ở ngoại thành kinh đô Phú Xuân, đến năm 1824 mới được cải táng về quê nhà ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dù làm quan đến hàng nhị phẩm, nhưng công trạng của Nguyễn Du trong quan trường nhà Nguyễn không đọng lại gì. Bộ sách Đại Nam liệt truyện viết về ông: "Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tỏ ra kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến, sợ hãi như không nói được". Không để lại nhiều dấu ấn trong quan trường, nhưng trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Du để lại rất nhiều tác phẩm quý giá, được tập hợp trong các tập thơ chữ Hán Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục và nhiều bài thơ chữ Nôm khác.Có một cuộc đời lang bạt gió bụi, lại từng sống ở thôn quê, tự xưng là Người thợ săn núi Hồng hay Người đánh cá biển Nam, Nguyễn Du gần gũi với đời sống nhân dân lao động và có tư tưởng nhân văn rất sâu sắc. Tư tưởng đó được thể hiện rõ rệt trong tác phẩm Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh) của ông. Văn chiêu hồn là một ngâm khúc gồm có 184 câu theo thể song thất lục bát, chứa đựng tấm lòng thương xót của tác giả đối với cảnh khổ của muôn vạn sinh linh. Tam quan sót lại của chùa Diệc, TP Vinh, Nghệ An, nơi tìm thấy một bản Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du năm 1926. Dẫn theo Báo Tiền phong (tienphong.vn)Theo các nghiên cứu sau này, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng trăm nghìn người chết, khắp nơi âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho những linh hồn vương vất. Học giả Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Có lẽ đã là số mệnh, Nguyễn Du thương xót, làm thơ chiêu tuyết cho những người chết vì bệnh dịch, thì cuối cùng, ông cũng vì bệnh dịch mà thiệt mạng. Theo lịch sử ghi lại, trong đợt dịch năm 1820 cướp mất sinh mạng của Nguyễn Du, nước ta có đến 200.000 người thiệt mạng, trong khi tổng dân số chỉ hơn 6 triệu người. Nguyễn Du qua đời, nhưng những vần thơ của ông vẫn còn sống mãi, Truyện Kiều của ông vẫn còn âm vang mãi trong mỗi người dân đất Việt. Năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc UNESCO đã vinh danh Nguyễn Du cùng với 107 nhân vật xuất sắc khác là danh nhân văn hóa toàn thế giới.* Đọc các câu chuyện lịch sử qua lời kể của tác giả Lê Tiên Long tại đây.

Truyện Kiều có trước hay sau Kim Vân Kiều truyện?

Truyện Kiều có trước hay sau Kim Vân Kiều truyện?

TTO - Bài báo 'Thử giải mã lại Truyện Kiều' nhận được nhiều sự quan tâm của bạn đọc yêu Truyện Kiều, trong đó có nhiều quan điểm trái chiều. Tuổi Trẻ giới thiệu bài viết của PGS.TS Đoàn Lê Giang (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM) về vấn đề này.

tuoitre.vn
Nguyễn Du trong không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội

Nguyễn Du trong không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội

Kinhtedothi - “Chẳng thơm cùng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” (Ca dao cổ). Nguyễn Du (1765 - 1820) cất tiếng khóc chào đời trên đất Thăng Long (tại Bích Câu /nghĩa: Con ngòi màu biếc). Ông sống trọn tuổi thơ và tuổi hoa niên trên đất Kinh kỳ.

kinhtedothi.vn
Mai Thu Huyền phản hồi tranh cãi về phim 'Kiều'

Mai Thu Huyền phản hồi tranh cãi về phim 'Kiều'

Tung ra những hình ảnh đầu tiên, phim điện ảnh 'Kiều' do Mai Thu Huyền đạo diễn gây tranh cãi về việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong phim.

ngoisao.net
Kiều

Kiều "đánh úp" với teaser đầy huyền ảo cùng nữ chính bí ẩn, "thái hậu" Thanh Hằng sắp có đối thủ xứng tầm?

Dự án Kiều ra mắt đúng 200 ngày mất của đại thi hào Nguyễn Du.

kenh14.vn
Hà Tĩnh: Khu lưu niệm Nguyễn Du, nơi lưu giữ hồn cốt của một Đại thi hào

Hà Tĩnh: Khu lưu niệm Nguyễn Du, nơi lưu giữ hồn cốt của một Đại thi hào

Kinhtedothi - Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du thuộc làng Tiên Điền (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh), nơi lưu giữ cuộc đời, sự nghiệp và những chứng tích về dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Nơi đây, mỗi năm đã thu hút hàng nghìn đoàn khách về nghiên cứu, tham quan, học tập.

kinhtedothi.vn
Tranh lụa Kiều của nữ họa sĩ Việt được chọn in tem Pháp

Tranh lụa Kiều của nữ họa sĩ Việt được chọn in tem Pháp

Mẫu tem đang phát hành tại Pháp lấy từ nguyên bản bức tranh lụa vẽ Kiều của nữ họa sĩ Ngọc Mai, sinh trưởng tại Sài Gòn - hội viên Hội Mỹ thuật TP.HCM, vừa được trưng bày và công bố trong triển lãm Truyện Kiều và các bản dịch tại Paris.

thanhnien.vn
Trao thưởng 56 bài thi xuất sắc tìm hiểu về Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du và Truyện Kiều

Trao thưởng 56 bài thi xuất sắc tìm hiểu về Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du và Truyện Kiều

Chiều 24/9, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh tổ chức tổng kết Cuộc thi “Tìm hiểu về đại thi hào dân tộc Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều”.

baotintuc.vn
200 năm ngày mất Nguyễn Du: Những con số 'biết nói' trong Truyện Kiều

200 năm ngày mất Nguyễn Du: Những con số 'biết nói' trong Truyện Kiều

Những con số trong tác phẩm trứ danh của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ hé lộ và giải thích quan niệm dân gian Việt Nam mà còn giúp mô tả nhân vật Thúy Kiều một cách đậm đà, vẹn toàn tài sắc.

vietnamplus.vn
Vị Tả quân hiếm có, 2 lần làm Tổng trấn Gia Định, tướng sĩ không dám ngó, đại thần thảy sợ uy

Vị Tả quân hiếm có, 2 lần làm Tổng trấn Gia Định, tướng sĩ không dám ngó, đại thần thảy sợ uy

Choi Byung Wook trong nghiên cứu Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng viết về Tả quân Lê Văn Duyệt rằng: "Những thuộc hạ và binh lính bình thường không thể trực tiếp nói chuyện với ông..."

soha.vn
Vị Tả quân hiếm có trong sử Việt, 2 lần làm Tổng trấn Gia Định, tướng sĩ không dám ngó, đại thần thảy sợ uy

Vị Tả quân hiếm có trong sử Việt, 2 lần làm Tổng trấn Gia Định, tướng sĩ không dám ngó, đại thần thảy sợ uy

Choi Byung Wook trong nghiên cứu Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng viết về Tả quân Lê Văn Duyệt rằng: "Những thuộc hạ và binh lính bình thường không thể trực tiếp nói chuyện với ông..."

soha.vn
Các tin khác
a
Xem thêm
Góc nhìn VNREVIEW
Tin mới nhất
Đọc nhiều nhất Phản hồi nhiều nhất

1 Xác định "cả đời" dùng máy tính Windows nên biết 19 mẹo này

2 Các deal "thơm" nhất ngày Black Friday 27/11/2020

3 Samsung chơi Black Friday lớn: giảm giá lên đến 50% các dòng TV và loa thanh

4 Tại sao bên trong máy giặt lồng ngang đều găm tới vài chục cân bê tông?

5 Tết dương lịch 2021 được nghỉ mấy ngày?

Điểm tin tuần