The Storm Riders✔
Writer
Trong 7 tháng giao tranh ở Trung Đông, quân đội Mỹ có thể đã phóng số tên lửa đánh chặn Patriot tương đương gần 19 năm mua sắm thời bình, khiến kho dự trữ sụt giảm nghiêm trọng và bộc lộ khoảng trống phòng thủ chiến lược.

Ước tính từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho thấy, trước khi xung đột bùng nổ, Mỹ sở hữu khoảng 2.200 đến 2.330 tên lửa đánh chặn Patriot thế hệ mới nhất. Tuy nhiên, sau khi bắn từ 1.060 đến 1.500 quả đạn trong các chiến dịch tại Trung Đông, lượng dự trữ ban đầu của quân đội Mỹ có thể chỉ còn lại khoảng một phần ba.
Trước thời điểm chiến sự, quân đội Mỹ duy trì mức mua sắm trung bình chừng 225 quả Patriot mỗi năm. Hiện tại, dù năng lực của tập đoàn Lockheed Martin đạt mức 600–650 quả mỗi năm, sản lượng này còn phải chia sẻ cho nhiều đối tác quốc tế. CSIS nhận định Washington cần tối thiểu 3 năm để bù đắp lượng đạn đã tiêu hao, giai đoạn có thể tạo ra điểm yếu phòng thủ đáng kể nếu phát sinh khủng hoảng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Tình trạng này xuất phát từ việc Mỹ viện trợ Patriot cho Ukraine từ năm 2022, chi viện đạn dược bảo vệ Israel và sự hạn chế kéo dài của nền công nghiệp quốc phòng. Vào tháng 4, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã cách chức ông George, dù thông tin được dẫn lại không khẳng định quyết định này liên quan trực tiếp đến các cảnh báo kho đạn.
Do việc tái thiết kho đạn phụ thuộc lớn vào năng lực sản xuất giới hạn và các nghĩa vụ cung cấp cho đồng minh, tiến độ khôi phục khó diễn ra nhanh chóng. Washington đang đứng trước áp lực vừa phải duy trì hỏa lực cho các điểm nóng hiện tại, vừa phải bảo toàn kho tên lửa dự trữ để răn đe và phân bổ cho các chiến trường chiến lược lâu dài.

Ước tính từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho thấy, trước khi xung đột bùng nổ, Mỹ sở hữu khoảng 2.200 đến 2.330 tên lửa đánh chặn Patriot thế hệ mới nhất. Tuy nhiên, sau khi bắn từ 1.060 đến 1.500 quả đạn trong các chiến dịch tại Trung Đông, lượng dự trữ ban đầu của quân đội Mỹ có thể chỉ còn lại khoảng một phần ba.
Trước thời điểm chiến sự, quân đội Mỹ duy trì mức mua sắm trung bình chừng 225 quả Patriot mỗi năm. Hiện tại, dù năng lực của tập đoàn Lockheed Martin đạt mức 600–650 quả mỗi năm, sản lượng này còn phải chia sẻ cho nhiều đối tác quốc tế. CSIS nhận định Washington cần tối thiểu 3 năm để bù đắp lượng đạn đã tiêu hao, giai đoạn có thể tạo ra điểm yếu phòng thủ đáng kể nếu phát sinh khủng hoảng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Cảnh báo thiếu hụt từ trước chiến sự
Nguy cơ cạn kiệt đạn phòng không đã được Tướng Randy George, khi đó là Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, nêu ra từ cuối tháng 12 năm ngoái trong Kế hoạch phân bổ quản lý lực lượng toàn cầu. Theo các nguồn tin giấu tên từ CBS News, tài liệu dự báo lượng tên lửa Patriot và hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) sẽ đối mặt mức thiếu hụt chiến lược kéo dài đến năm 2030.Tình trạng này xuất phát từ việc Mỹ viện trợ Patriot cho Ukraine từ năm 2022, chi viện đạn dược bảo vệ Israel và sự hạn chế kéo dài của nền công nghiệp quốc phòng. Vào tháng 4, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã cách chức ông George, dù thông tin được dẫn lại không khẳng định quyết định này liên quan trực tiếp đến các cảnh báo kho đạn.
Thách thức bổ sung dòng đạn PAC-3
Mẫu tên lửa chịu sức ép thiếu hụt lớn nhất là Patriot Advanced Capability-3 (PAC-3), dòng đạn đất đối không tốc độ cao chuyên tiêu diệt trực diện mục tiêu như tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và máy bay. Cố vấn cấp cao Mark Cancian của CSIS nhận định Patriot cùng THAAD sẽ là các loại vũ khí tối quan trọng nếu Mỹ xảy ra đụng độ tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi đòi hỏi năng lực phòng thủ tên lửa vượt trội hơn so với vũ khí tác chiến mặt đất.Do việc tái thiết kho đạn phụ thuộc lớn vào năng lực sản xuất giới hạn và các nghĩa vụ cung cấp cho đồng minh, tiến độ khôi phục khó diễn ra nhanh chóng. Washington đang đứng trước áp lực vừa phải duy trì hỏa lực cho các điểm nóng hiện tại, vừa phải bảo toàn kho tên lửa dự trữ để răn đe và phân bổ cho các chiến trường chiến lược lâu dài.