Cảnh báo mã độc Aokigahara: Những công cụ AI quen thuộc của lập trình viên có thể trở thành mục tiêu đánh cắp dữ liệu

Duy Linh
Duy Linh✔
Phản hồi: 0

Duy Linh✔

Writer
Aokigahara là một phần mềm đánh cắp thông tin đang nhắm mục tiêu vào các trợ lý lập trình trí tuệ nhân tạo (AI), máy trạm của nhà phát triển và thông tin đăng nhập dịch vụ đám mây. Thay vì chỉ tập trung vào trình duyệt web và ví tiền điện tử như nhiều phần mềm đánh cắp thông tin truyền thống, mã độc này mở rộng phạm vi thu thập sang các tệp cấu hình, dữ liệu xác thực và thông tin phiên làm việc được lưu trữ trên máy tính.
1793075019942.png
Các mục tiêu được ghi nhận bao gồm Claude Code và Claude Desktop, ChatGPT Desktop, Codex, Cursor, Windsurf, GitHub Copilot, Gemini CLI và JetBrains AI Assistant. Đây đều là những công cụ có thể xuất hiện trong môi trường làm việc của lập trình viên, nơi lưu trữ nhiều thông tin liên quan đến tài khoản, dự án và quá trình phát triển phần mềm.

Thay vì khai thác một lỗ hổng bảo mật đã được xác định trong những sản phẩm này, Aokigahara tìm kiếm các tệp có khả năng chứa dữ liệu giá trị trong bộ nhớ lưu trữ cục bộ của ứng dụng. Tuy nhiên, việc một tệp nằm trong danh sách mục tiêu không đồng nghĩa với việc tệp đó chắc chắn chứa thông tin xác thực bí mật hoặc dữ liệu có thể sử dụng để truy cập trái phép.

Theo các phân tích được công bố, mã độc sử dụng những trình xử lý nhiệm vụ chuyên biệt để thu thập dữ liệu từ từng nhóm ứng dụng. Phạm vi này bao gồm các tệp cấu hình và xác thực của Codex, thông tin đăng nhập Claude, cơ sở dữ liệu trạng thái của Cursor và Windsurf, cùng dữ liệu lưu trữ của GitHub Copilot.

Hoạt động thu thập còn mở rộng sang Amazon Q, Kiro, thông tin xác thực AWS và bộ nhớ đệm đăng nhập một lần (SSO) của AWS. Bên cạnh việc tìm kiếm các tệp thông thường, Aokigahara còn truy vấn Windows Credential Manager, thành phần quản lý thông tin xác thực của hệ điều hành Windows.

Nếu thu thập được các token còn hiệu lực, kẻ tấn công có thể tìm cách truy cập những tài khoản AI bị xâm phạm, sử dụng các dịch vụ trả phí hoặc tiếp cận những cuộc trò chuyện riêng tư và thông tin liên quan đến hoạt động phát triển phần mềm. Việc bán lại quyền truy cập vào các tài khoản này cũng là một hướng kiếm tiền tiềm năng.

Tuy nhiên, phân tích của Check Point Research chưa xác định được cách thức những kẻ vận hành Aokigahara kiếm tiền từ dữ liệu bị đánh cắp. Nghiên cứu cũng chưa xác nhận rằng tất cả các phiên truy cập và thông tin xác thực thu thập được đều còn hợp lệ.

Một nghiên cứu liên quan của nhóm Threat Hunter thuộc Symantec xác định phần mềm độc hại này là Aoki, còn được biết đến với tên Aokigahara. Các kết quả cho thấy khả năng thu thập thông tin đăng nhập từ những công cụ AI đã xuất hiện trong các phiên bản mới hơn. Điều này gợi ý rằng những phân tích gần đây phản ánh quá trình mở rộng và nâng cấp khả năng đánh cắp thông tin của mã độc, thay vì nhất thiết là sự xuất hiện của một họ phần mềm độc hại hoàn toàn riêng biệt.

Check Point Research đã ghi nhận Aokigahara trong các hoạt động thực tế, đồng thời xác định những chương trình con chuyên dụng để thu thập tệp xác thực, dữ liệu phiên và tệp cấu hình từ nhiều ứng dụng AI phổ biến. Những phiên bản trước đó của phần mềm độc hại này có thể đã được phát tán dưới các tên Kamidere hoặc Stygian.

Aokigahara nhắm vào công cụ lập trình, khóa SSH và thông tin xác thực đám mây​

Ngoài các trợ lý AI, Aokigahara còn có một trình xử lý riêng chuyên tìm kiếm dữ liệu trong các trình soạn thảo mã và môi trường phát triển tích hợp (IDE). Những mục tiêu được ghi nhận bao gồm Visual Studio Code, Cursor, Windsurf và các sản phẩm của JetBrains.

Trình xử lý này tìm kiếm nhiều loại dữ liệu có giá trị đối với hoạt động phát triển phần mềm, trong đó có các tệp thông tin xác thực Git và những tệp trong thư mục .ssh có khả năng chứa khóa riêng tư. Mã độc cũng nhắm đến các tệp thông tin xác thực và cấu hình liên quan đến AWS, Microsoft Azure và Google Cloud.

Những nội dung phù hợp với tiêu chí thu thập sẽ được chuyển sang quy trình tải dữ liệu lên của mã độc. Nếu các tệp bị lấy cắp thực sự chứa thông tin xác thực hợp lệ, hậu quả có thể vượt xa việc mất quyền kiểm soát một tài khoản AI cá nhân.

Cụ thể, các thông tin này có thể tạo điều kiện để kẻ tấn công tiếp cận kho lưu trữ mã nguồn, tài nguyên đám mây và những dịch vụ phát triển được kết nối với tài khoản bị xâm phạm. Dù vậy, tác động thực tế vẫn phụ thuộc vào tính hợp lệ của thông tin xác thực, phạm vi quyền được cấp và việc các tệp thu thập được có chứa bí mật có thể khôi phục hay không.

Bên cạnh các mục tiêu liên quan đến AI và môi trường phát triển, Aokigahara vẫn duy trì nhiều chức năng đánh cắp thông tin truyền thống. Các khả năng này bao gồm thu thập mật khẩu và cookie trình duyệt, chụp ảnh màn hình, lấy dữ liệu từ clipboard, thu thập thông tin ví tiền điện tử và đánh cắp dữ liệu từ những ứng dụng nhắn tin, email, VPN, FTP cũng như phần mềm quản lý mật khẩu.

Một thành phần riêng biệt được sử dụng để xử lý hoạt động thao tác với clipboard. Tuy nhiên, định dạng ví tiền điện tử mà thành phần này nhắm đến vẫn chưa được xác nhận.

Cơ chế mã hóa, truyền dữ liệu và né tránh phân tích của Aokigahara​

Aokigahara lưu trữ cấu hình đã mã hóa trong phần .stgcfg của tệp thực thi và sử dụng thuật toán AES-256-CBC để giải mã. Các trường cấu hình xác định nhiều thông số quan trọng, bao gồm hạ tầng điều khiển và quản trị (C2), khóa công khai X25519 của máy chủ, lựa chọn mô-đun, thiết lập ghim chứng chỉ và các URL dự phòng.

Đáng chú ý, ngay cả những mô-đun bị vô hiệu hóa cũng vẫn được nhúng trong tệp thực thi. Điều này cho thấy khả năng thu thập dữ liệu có thể được lựa chọn thông qua cấu hình, thay vì tất cả chức năng đều phải được kích hoạt trong mọi phiên bản.

Quy trình truyền dữ liệu sử dụng ba điểm cuối gồm /gate/handshake, /gate/chunk và /gate/complete. Trong đó, cơ chế trao đổi khóa X25519 được sử dụng để thiết lập vật liệu khóa chung, còn SHA-256 tạo ra khóa phục vụ việc mã hóa các tệp lưu trữ ZIP đã thu thập bằng AES-256-GCM.

Phần tiêu đề của yêu cầu tải lên xác định các mô-đun thu thập dữ liệu và số thứ tự của từng khối dữ liệu. Khi quá trình tải lên kết thúc, thông báo hoàn thành được gửi đi để đánh dấu kết thúc giai đoạn này. Tuy nhiên, thông báo đó không phải bằng chứng độc lập xác nhận rằng mọi dữ liệu đều đã được truyền thành công.

Mã độc cũng có thể sử dụng các bước kiểm tra chống phân tích để gây khó khăn cho quá trình nghiên cứu. Những kiểm tra tùy chọn này tìm kiếm dấu hiệu của trình gỡ lỗi, thành phần ảo hóa, tài nguyên phần cứng, số lượng tiến trình đang chạy, chuyển động của con trỏ chuột và những tên tài khoản bị xem là đáng ngờ.

Ngoài ra, các bước kiểm tra ngôn ngữ có thể được cấu hình để khiến mã độc chấm dứt hoạt động trong một số điều kiện nhất định. Nhìn chung, những cơ chế này làm phức tạp quá trình phân tích tự động, đồng thời cho phép người vận hành lựa chọn những khả năng thu thập dữ liệu được kích hoạt trong từng bản dựng.

Các mẫu gần đây được ghi nhận sử dụng chuỗi User-Agent Microsoft-CryptoAPI/10.0 khi giao tiếp. Chi tiết này phản ánh những thay đổi trong các phiên bản được phân tích, bao gồm sự điều chỉnh về cấu hình và cách thức hoạt động của phần mềm độc hại.

Các chỉ báo xâm nhập (IOC)​

Dưới đây là những giá trị SHA-1 được cung cấp để hỗ trợ việc nhận diện các mẫu Aokigahara trong quá trình điều tra an ninh mạng.

Loại chỉ báoGiá trị
Aokigahara SHA-1007137599bc4d69ee952a5228b5fcb2c3b9a95a7
Aokigahara SHA-100d52c7e759d878f0d8a117502f6d854af13f007
Aokigahara SHA-104eddccb79db41e03a4ee8542e8a33d7f1d9fe18
Aokigahara SHA-1057a2d1dedeb93b7765c455a9e0c469e7cbe4843
Aokigahara SHA-1079ddf5cc7d6ca2e02f860f87d4d18c83db9d331
Aokigahara SHA-10b74ce90a39278fb97fe94f6306af71cbe679503
Aokigahara SHA-10c46ac5555cf8f305c1345a21d0802c52bf52cd8

Địa chỉ IP và tên miền trong dữ liệu IOC đã được cố ý vô hiệu hóa, chẳng hạn bằng cách thay đổi định dạng thành [.], nhằm ngăn việc phân giải tên miền hoặc tạo liên kết siêu văn bản ngoài ý muốn. Việc khôi phục các giá trị này chỉ nên được thực hiện trong những nền tảng tình báo mối đe dọa được kiểm soát, chẳng hạn như MISP, VirusTotal hoặc SIEM của tổ chức.
 
Được phối hợp thực hiện bởi các chuyên gia của Bkav, cộng đồng An ninh mạng Việt Nam WhiteHat và cộng đồng Khoa học công nghệ VnReview
Back
Top